Chương trình DAPA và DACA

23 Tháng Mười Hai 20155:13 CH(Xem: 19109)
Chương trình DAPA và DACA

Chương Trình DAPA và DACA


chuong-trinh-dapa-va-daca-ditrumyCơ quan bảo vệ quyền lợi của người lao động liên bang yêu cầu Tối cao pháp viện bỏ lệnh cấm trên chương trình DAPA (Deferred Action for Parents of Americans and Lawful Permanent Residents) và chương trình DACA (Deferred Action for Childhood Arrivals) mở rộng

Ngày 7 tháng 12 năm 2015

Ngày 20 Tháng 11 năm 2015, chính quyền Obama kiến nghị lên Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ để nghe tranh luận liên quan đến một lệnh được ban hành do tòa phúc thẩm ở Texas, Hoa Kỳ về việc ngăn chặn việc thực hiện chương trình tạm hoãn thi hành lệnh trục xuất cha-mẹ của công dân Mỹ và thường trú nhân (DAPA) và sự mở rộng của chương trình tạm hoãn trục xuất những người đến Mỹ bất hợp pháp khi còn thơ ấu (DACA)

Lịch sử của 2 chương trình DAPA và DACA

Chương trình DACA đã được tạo ra vào năm 2012 cung cấp cho những công dân nước ngoài đã được đưa đến Hoa Kỳ khi còn là trẻ em và những người ở Hoa Kỳ bất hợp pháp, khả năng tạm thời ở lại Mỹ và được phép làm việc. Trong năm 2014, Tổng thống Obama đã ra lệnh cấp cao (executive order) để mở rộng điều kiện cho chương trình DACA và để thực hiện chương trình DAPA, điều mà sẽ cung cấp lợi ích nhập cư tương tự như cha mẹ của công dân Mỹ và thường trú nhân hợp pháp. Vào tháng 2 năm 2015, một tòa án liên bang đã ban hành một lệnh cấm ngăn cản chương trình DAPA và các phiên bản mở rộng của DACA được thực hiện. Các lệnh này sau đó đã được duy trì bởi một tòa kháng án liên bang.

Tối cao pháp viện không bắt buộc phải tiếp nhận hồ sơ phúc thẩm

Khoảng 10.000 kiến nghị được nộp mỗi năm yêu cầu Tối cao pháp viện HoaKỳ cấp lệnh phúc thẩm – có nghĩa là để đồng ý xem xét lại quyết định của tòa án cấp dưới. Tối cao pháp viện thường đồng ý xem xét lại hoàn toàn chỉ khoảng 75 đến 80 trong tổng số các trường hợp yêu cầu phúc thẩm mỗi năm. Nếu tòa án tối cao từ chối mở phiên tòa, phán quyết cuối cùng là của tòa án cấp dưới. Thường mất khoảng sáu tuần cho Tối cao pháp viện  để quyết định liệu có cấp lệnh phúc thẩm hay không.

Trong trường hợp nếu Tối cao pháp viện từ chối cấp lệnh phúc thẩm, lệnh cấm sẽ vẫn có hiệu lực khi các vụ kiện tiến hành. Mặt khác, nếu tòa án đồng ý tiếp nhận trường hợp kháng cáo, Tòa án Tối cao sẽ có tiếng nói cuối cùng về việc liệu các lệnh phải được dỡ bỏ.

Lời kết

Trường hợp này không những đã mang đến những người hưởng lợi tiềm năng của chương trình DAPA / DACA, mà còn có thể giúp thiết lập các giới hạn quyền lực của tổng thống về chính sách nhập cư của Hoa Kỳ.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 210)
Mối quan hệ vợ/ chồng của bạn là thật nhưng tại sao vẫn không được cấp visa? Hãy cùng First Consulting Group tìm hiểu những nguyên nhân phổ biến làm cho hồ sơ bảo lãnh vợ/ chồng bị từ chối
04 Tháng Mười Một 2020(Xem: 4155)
F2A là thị thực nhập cư Hoa Kỳ dành cho vợ/chồng hoặc con dưới 21 tuổi của thường trú nhân (thẻ xanh). Thị thực này cho phép thường trú nhân được nộp hồ sơ bảo lãnh vợ/chồng và con dưới 21 tuổi qua Mỹ.
04 Tháng Mười Một 2020(Xem: 366)
Hôm nay, tòa án liên bang nhận định rằng Sở Di Trú đã vượt quá quyền hạn của mình trong việc đưa ra luật xét gánh nặng xã hội vào tháng 8/2019. Thẩm phán yêu cầu Bộ An Ninh Nội Địa Hoa Kỳ (Department of Homeland Security) lập tức bỏ việc thi hành điều luật trên, bao gồm cả việc không sử dụng đơn cam kết về khả năng tự lực sẽ không thành gánh nặng xã hội (Đơn I-944)
04 Tháng Mười Một 2020(Xem: 636)
- Diện F1 : Con độc thân trên 21 tuổi của công dân Mỹ: Ngày 15/09/2014 - Diện F2A : Vợ hoặc chồng và các con nhỏ của thường trú nhân: không cần chờ ngày ưu tiên - Diện F2B : Con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân: Ngày 08/07/2015 - Diện F3 : Con đã lập gia đình của công dân Mỹ: Ngày 15/06/2008 - Diện F4 : Anh chị em của công dân Mỹ: Ngày 22/09/2006
28 Tháng Mười 2020(Xem: 7365)
Hiện tại, trung bình tổng thời gian bảo lãnh vợ/chồng từ Việt Nam sang Mỹ đối với quốc tịch bảo lãnh vợ/chồng (visa IR1/CR1) khoảng 14 - 18 tháng. Thẻ xanh (thường trú nhân) bảo lãnh vợ / chồng (F2A) khoảng 24 – 30 tháng
22 Tháng Mười 2020(Xem: 817)
Sau cuộc phỏng vấn hồ sơ diện bảo lãnh vợ chồng, nếu Lãnh sự quán không tin mối quan hệ hôn nhân là thật sự họ có thể sẽ điều tra thêm để có đầy đủ chứng cứ trước khi đưa ra quyết định. Hồ sơ sẽ được chuyển cho bộ phận điều tra phòng chống gian lận và có thể họ sẽ cử nhân viên điều tra đến tận nhà của đương đơn để thăm dò và tra vấn thêm.
13 Tháng Mười 2020(Xem: 748)
Sở di trú Hoa Kỳ ban hành chính sách cấm định cư đối với những đương đơn là đảng viên Đảng Cộng sản, thành viên của các tổ chức/ thể chế độc tài và những đương đơn khác có liên quan đến tổ chức này.
11 Tháng Mười 2020(Xem: 34065)
Sau khi được Sở Di Trú chấp thuận, hồ sơ của quý vị sẽ được gửi đến Trung Tâm Chiếu Kháng Quốc Gia (NVC) để được cứu xét. Người bảo lãnh cần chuẩn bị hồ sơ bảo trợ tài chánh và những giấy tờ cần thiết khác. NVC sẽ hoàn thành hồ sơ của quý vị và lên lịch phỏng vấn tại lãnh sự quán Mỹ ở Sài gòn, Việt nam.
08 Tháng Mười 2020(Xem: 31510)
Công hàm độc thân là một bộ hồ sơ chứng nhận một công dân Mỹ hay thường trú nhân Mỹ đang còn trong tình trạng độc thân được hợp thức hóa bởi Lãnh sự quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Tất cả công dân Mỹ hay thường trú nhân Mỹ muốn về Việt Nam đăng ký kết hôn với người phối ngẫu ở Việt Nam đều cần phải có công hàm độc thân.
30 Tháng Chín 2020(Xem: 1986)
- Diện F1 : Con độc thân trên 21 tuổi của công dân Mỹ: Ngày 15/09/2014 - Diện F2A : Vợ hoặc chồng và các con nhỏ của thường trú nhân: không cần chờ ngày ưu tiên - Diện F2B : Con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân: Ngày 08/07/2015 - Diện F3 : Con đã lập gia đình của công dân Mỹ: Ngày 15/06/2008 - Diện F4 : Anh chị em của công dân Mỹ: Ngày 22/09/2006
BẠN ĐẶT CÂU HỎI
Họ tên *
Số điện thoại
Email *
Đính kèm file
Chọn tập tin
Nội dung *